Hiển thị các bài đăng có nhãn Thơ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thơ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 6 tháng 10, 2011

Bài số 28 Một Cõi Thiền Nhàn


Chào quý bạn,

Đây là bài thứ hai mươi tám của người viết về chủ đề Thiền Nhàn trong khu vườn Một Cõi Thiền Nhàn của trang văn nghệ Oregon Thời Báo.

Chủ nhật vừa qua, vợ chồng chúng tôi đến Tịnh Xá Minh Quang dự lễ cầu siêu 100 ngày của anh Nguyễn Thành Út, pháp danh Thiện Hoà, hội viên của Hội Người Việt Cao Niên Oregon.
Thời gian trôi qua rất nhanh!  Mới đó anh NTU đã ra đi 100 ngày rồi và có lẻ bây giờ linh hồn anh cũng đã siêu thoát.  Còn lại nơi đây là những người thân yêu trong gia đình anh và các bạn bè thân mến của anh đang tưởng nhớ và đang cầu nguyện cho anh. Khi đọc kinh cầu nguyện cho anh, tôi lại nhớ đến bốn câu thơ:

“Ngàn năm vẫn mãi luân hồi 
Trong vòng Nghiệp Quả miếng mồi lợi danh ,
Ngàn năm kiếp sống mong manh ,
Một trăm năm tuổi thoáng nhanh kiếp đời »

(Trích trong bài thơ Ngàn Năm Mây Trắng Vẫn Bay của Sương Lam)

Hình như số người tham dự buổi lễ cầu siêu này không đông đảo như trong lần cầu siêu 49 ngày của anh cũng tại nơi đây.
 Sống trong cõi trần này ai nấy đều bận rộn với các sinh hoạt cho gia đình, cho sự nghiệp và cho những việc khác nữa.  Tình yêu thương sâu sắc và thiêng liêng nhất vẫn là tình cảm gia đình, cho nên chúng ta phải quý trọng và thương yêu những người đã cùng chia ngọt xẻ bùi với chúng ta trong suốt cuộc đời của ta.  Đó là ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con cháu và những họ hàng thân quyến chúng ta.  Trong giây phút hiện tại, những giờ phút được sống vui vẻ hạnh phúc bên nhau trong một mái ấm gia đình là một phúc duyên tốt đẹp nhất mà ta nên trân quý, dù biết rằng tất cả mọi sự việc trên đời này chỉ là phù du, tạm bợ.
  
Xin mời Bạn hãy nghe nhạc sĩ Lê Dinh tâm sự qua bài hát Trở về Cát Bụi của ông:

«Sống trên đời này tựa phù du có đây lại rồi mất.
Cuộc sống mong manh xin nhắc ai đừng đổi trắng thay đen
Nào người sang giàu đừng vì tham tiền bỏ nghĩa anh em
Người ơi xin nhớ cát bụi là ta ...mai này chóng phai
Người nhớ cho ta là cát bụi trở về cát bụi
Xin người nhớ cho »
( Nguồn: trích trong bài hát Trở Về Cát bụi của Lê Dinh)

Nhìn chị Phượng, vợ anh NTU và đàn con cháu trong gia đình thành kính, tưởng nhớ và cầu nguyện cho chồng, cho cha, cho ông của họ trong buổi lễ cầu siêu này, tôi lại miên man  nghĩ đến nỗi đau buồn của những gia đình khác đang đau thương, tưởng nhớ đến người thân của họ đã bỏ mình trong rừng sâu biển thẳm hay tử nạn nơi chốn chiến trường trong tháng tư đau buồn của nước Việt Nam chúng ta ba mươi lăm năm về trước. 

Dù đang tìm những giây phút tĩnh an trong cuộc hồng trần nơi xứ lạ quê người này, Bạn và tôi vẫn là người Việt Nam, làm sao chúng ta không có những  phút giây xúc động mỗi lần tháng Tư lại đến, phải không Bạn? 

Chúng ta ngậm ngùi nhớ đến những chiến sĩ đã vị quốc vong thân, những bạn bè, những thân nhân đã bỏ mình trên bước đường đi tìm tự do.

« Tháng Tư cũ quê tôi buồn sâu đậm
Bởi nhà tan nước mất, khóc chia ly
Bạn tù đày, người đau khổ ra đi
Kẻ bỏ xác nơi rừng sâu, biển lạnh

Ôi! Vận nước thịnh suy ta khó tránh
Cuộc hồng trần! Ôi ! Tan hợp, hợp tan
Bao mươi năm!  Sầu, khổ, hận vô vàn
Biển vẫn mặn! Nỗi đau thương còn đó! 

Mây vẫn trôi, trời vẫn còn mưa gió
Nhưng cuộc đời: bao thay đổi, đổi thay
Nhiều bạn xưa vĩnh biệt cõi trần này
Người còn sống đã mắt mờ, tóc bạc »

( Trích trong Bài Tình Thơ Tháng Tư của Sương Lam)

Tôi đã nhiều lần ra ngắm biển ở Oregon. Đứng ở bờ bên này nhìn màu xanh tuyệt đẹp của biển ở xa xa, tôi lại nhớ đến bài thơ Biển và Dân Việt của tôi viết từ năm 1982 khi tôi mới đến Portland. Lúc đó, tôi mới rời xa quê mẹ, nên niềm thương nỗi nhớ về một quê hương mới vừa xa cách là niềm cảm hứng cho các bài thơ của tôi.
  Tập thơ  Tháng Tư với Nỗi Nhớ Quê Hương của tôi nói lên nỗi niềm tâm sự của một kẻ phải rời xa cha già mẹ yếu, gia đình thân yêu để đi lưu lạc nơi xứ người được ra đời năm 1982  nhờ sự thương mến, giúp đỡ của những người bạn tốt mà tôi mới quen biết ở truờng Portland Community College.  Tập thơ này được tái bản nhiều lần do sự ủng hộ tài chánh của những bạn bè đồng tâm sự như tôi.

Nhân đây, tôi cũng xin cám ơn những người bạn trẻ sinh viên ngày nào (đặc biệt, anh Trần Văn Minh, chồng tôi và họa sĩ  Huỳnh Lương Vinh, người  đã vẽ hình bìa và các tranh ảnh trong các tuyển tập thơ của SL) đã cùng tôi thực hiện ước mơ giữ gìn tình tự dân tộc Việt Nam trong tháng ngày sống lưu lạc nơi xứ người.  SL cũng xin cám ơn quý thân hữu, quý độc giả  đã đọc, đã cảm thông và đã thương mến thơ văn của Sương Lam.

Xin mời  quý bạn nghe tâm sự của người viết qua vài đoạn thơ mà tôi rất thích  nhất trong bài thơ Biển và Dân Việt  như sau:

 Người chỉ biết những con tàu đã đến
 Còn bao nhiêu lạc nẻo hoặc chìm sâu
 Giữa phong ba xanh thẳm chỉ một màu
 Ai đếm được bao nhiêu mồ giữa biển

 Hay là :

« Người đừng hỏi tại sao dân tôi chỉ
 Nụ cười buồn và ánh mắt xa xăm
Hoặc nhiều khi đứng lặng lẻ âm thầm
 Mắt ướt lệ, dáng đau buồn chẳng nói

Biển vẫn đẹp, vẫn hiền lành vô tội
Vẫn màu xanh trong nắng sớm long lanh
Nhưng buồn thay! Biển đẹp ấy lại thành
Vùng tử địa, chôn bao người dân Việt. »

(Trích trong Biển và Dân Việt - Thơ Sương Lam)

Người viết xin thành kính chia buồn cùng những gia đình có thân nhân hy sinh cho tổ quốc hay đã bỏ mình trên bước đường tìm tự do và cầu nguyện cho các hương linh người tử nạn sớm siêu thoát.

 Thời gian vẫn cứ trôi  qua và con người vẫn còn đau buồn với cảnh sinh tử, biệt ly:

« Bao mươi năm! Cuộc đời dầu đổi khác
Nhưng tấm lòng yêu nước, nhớ quê hương
Và nỗi buồn của kẻ sống tha hương
Vẫn còn đó trong lòng người dân Việt »

(Thơ Sương Lam)

 Tuy nhiên, chúng ta cũng cần an trú trong hiện tại để sống vui với kiếp người, bạn nhé !
Xin mời quý bạn đọc mẫu chuyện thiền dưới đây:

An trú hiện tại

Đức Phật hỏi một đệ tử Tăng:
-          Đời người bao lâu?
Tăng đáp:
-          50 năm.
Phật bảo: Không đúng.
-          40 năm.
-          Không đúng.
-          30 năm.
Phật kết luận: Đời người trong một hơi thở.

Bình:  Chúng ta bôn ba xuôi ngược đủ thứ để tìm cầu hạnh phúc.  Song cái quý nhất của đời người là hơi thở mà ít ai để ý.  Thiền giúp ta sống lại với hạnh phúc đơn sơ, nhưng rất chân thật với chính mình.
« Thở vào tâm yên lặng.  Thở ra miệng mỉm cười.  An trú trong hiện tại.  Giờ phút đẹp tuyệt vời.”
 Nguồn: Thiền là gì? Giác Nguyên)

  Chúc các bạn một ngày vui, nhiều sức khoẻ và mọi sự an lành đến với các bạn

Người giữ vườn Một Cõi Thiền Nhàn

Sương Lam

(Tài liệu sưu tầm trên internet, qua email bạn gửi, ORTB418-4-23-2010)

Thứ Sáu, 30 tháng 9, 2011

Bài số 15 Một Cõi Thiền Nhàn





Chào quý bạn,

Đây là bài thứ mười lăm của người viết về chủ đề Thiền Nhàn trong khu vườn Một Cõi Thiền Nhàn của trang văn nghệ Oregon Thời Báo.

Thứ tư vừa qua 1-30-2010, Portland phủ đầy tuyết trắng.  Người viết không thể nào đến nhà cô cháu nội dễ thương Mya của tôi như thường lệ.  Buồn quá!
  Tôi phải ngồi  bên song cửa nhìn những cụm tuyết  trắng bay bay như những nhúm bông gòn được những bàn tay tiên nữ trên trời đùa nghịch thả xuống, chẳng bao lâu sân trước vườn sau  nhà tôi phủ đầy tuyết trắng.  Tiếng nhạc êm dịu trong nhà và cảnh đẹp tuyết trắng ngoài sân làm sống dậy hồn thơ trong tôi:

Bên song cửa nhìn tuyết rơi nhè nhẹ
Từ trên trời bông tuyết trắng bay bay
Chẳng bao lâu bông tuyết trắng phủ đầy
Trên vườn cỏ, trên khóm hoa, khu phố

Nghe đâu đấy lời kinh buồn phổ độ
Cho kiếp người nay hợp lại mai tan
Như tuyết kia, như hoa nọ sẽ tàn
Khi nắng đến, khi mưa về! Tan tác!

(Bên song nhìn tuyết đổ - SL)-

Màu trắng của tuyết đã gợi cảm hứng cho những vần thơ khúc nhạc của thi sĩ, nhạc sĩ như bài thơ Hoa Xuyên Tuyết của Tế Hanh dưới đây:

Nở trước trăm hoa hoa xuyên tuyết
Đem tin xuân đến khắp trăm nhà
Tìm màu trắng tuyết nhưng không thấy
Chỉ thấy quanh mình màu trắng hoa

 Tế Hanh

Bạn sẽ cảm thông với  những chàng phi công nhìn tuyết trắng bay bay mà nhớ đến người yêu đang chờ đợi ở nhà qua nhạc phẩmTuyết Trắng của Trần thiện Thanh.  Theo nhận xét riêng của tôi, thì  không có ca sĩ nào hát bài này hay như ca sĩ Sĩ Phú đang “ngả nghiêng cánh chim, con tàu sẽ rời, rời xa thành phố rồi”.  Có phải vì  Sĩ Phú cũng là dân phi công nhìn tuyết trắng đúng  như tâm sự của mình nên mới hát  bài này hay như thế.

Mời bạn nghe tâm sự của chàng phi công  này nhé:

“Khi nắng chiều đi không gian chợt tối
xóa nhòa vùng tuyết trắng mông mênh
Anh ước sao tình mình như tuyết trinh
cho dù chúng mình không gian cách chia
cho dù tuyết trắng đã chìm trong màn đêm.”


Portland cũng nổi tiếng với ngọn núi Mount Hood tuyết trắng quanh năm, nhìn xa xa giống như ngọn núi nổi tiếng Phú Sĩ  của Nhật Bản.  Mỗi lần vợ chồng chúng tôi lê gót giang hồ trở về chốn cũ,  qua khung cửa máy bay,  nhìn thấy ngọn núi Mount Hood  thấp thoáng qua làn mây phía dưới, lòng tôi xúc động vô cùng.  Dù muốn dù không,  Portland cũng là nơi tôi sống gần ba chục năm qua, làm sao  tôi lại không có một chút nghĩa chút tình với  người dân và nơi chốn đã cưu mang gia đình tôi trong  những ngày tôi mới đến tìm tự do nơi đất lạ.

 Hơn thế nữa, ở nơi “đất lạnh tình nồng” này tôi lại có những người thân yêu gia đình tôi đang sống.   Họ đã và đang chia sẻ với tôi những vui buồn của cuộc sống tha hương đất khách.
  Tôi yêu Portland với những gì  hiện có ở nơi đây:  mùa Xuân với hoa đào hồng thắm, mùa Hạ với nắng ấm biển xanh, mùa thu với lá vàng trước ngõ và mùa Đông với tuyết trắng sau nhà.  Mùa nào cũng đẹp và đáng yêu đối với tôi, Bạn ạ!

Bên ngoài tuyết vẫn đổ, tôi cảm thấy lạnh nên đi pha một bình trà nhỏ để uống cho ấm lòng.
 Tôi vẫn nghĩ thú uống trà là một thú vui tao nhã của những bậc thi nhân ẩn sĩ.  Nhiều tài liệu đã nói về cái thú tao nhã này. Xin hãy đọc những dòng chữ giới thiệu về  thú uống trà của  Nguyễn  Duy Chính qua Lời Mở Đầu trong bài viết  “Trà Tàu và Âm Nghi Hưng” của ông dưới đây:

“Uống trà tàu vốn dĩ phổ thông thời trước, đến nay đã trở thành hiếm hoi trong xã hội Việt nam.  Thanh niên ngày nay chỉ mường tượng được cái hình ảnh đó qua truyện ngắn của Nguyễn Tuân trong Vang bóng một thời, Những chiếc ấm đất, Chén trà trong sương sớm).
 Sách vở viết về trà lại càng ít ỏi.  Tại Việt năm thời trước, ngoài cuốn Vang bóng một thời chỉ lác đác một vài ba cuốn khác.  Trà đạo  kiểu Nhật thì có bản dịch cuốn Trà Thư (The Book of Tea) của Okakaura Kakuzo của Bảo Sơn
 Một tiểu thuyết cũng viết nhiều về thú uống trà là cuốn Trà Thất của Minh Đức Hoài Trinh.
 Ở hải ngoại, cuốn Trà Kinh của Vũ Thế Ngọc  là một biên khảo tương đối công phu.  Ngoài ra, thỉnh thỏang có một đoản thiên nghiên cứu về trà Tầu hay ấm trà đang rải rác trong tạp chí.  Mới đây tôi được đọc bài của Phan Quốc Sơn về ấm Nghi Hưng rất thú vị.
 Trong tác phẩm Sống Đẹp, Lâm Ngữ Đường cho rằng uống trà là một phát minh quan trọng nhất trong đời sống.  Trà là một phần và cũng là một biểu tượng của sự nhàn nhã,  Ông để hẵn một mục để bàn về Trà và Tình Bạn.
Viết về cách uống trà, thưởng thức trà thì Tây Phương có hằng trăm cuốn nhưng phần lớn viết theo cách nghiên cứu một loại thực phẩm.  Người Trung Hoa cũng có nhiều sách viết về trà, nghệ thuật uống trà, còn người Nhật thì đưa hẳn lên thành một đạo sống(Trà Đạo). 
Riêng Việt nam mặc dầu uống trà rất thịnh hành nhưng lại ít ai để tâm nghiên cứu.  Vũ Thế Ngọc, tác giả cuốn Trà Kinh đã ngậm ngùi mà than rằng: “viết về trà thì gần như chưa có ai viết” hoặc “viết vô cùng sơ lược”.  Nhận xét đó có lẻ không sai.  Và vì thế ông tự cho rằng cuốn sách ông soạn “là quyển sách đầu tiên  về nghệ thuật uống trà bằng Việt ngữ tương đối đầy đủ hơn cả” thì cũng không ngoa”.

( nguồn: Trà Tầu Và ấm Nghi Hưng của Nguyễn Duy Chính)

Tác giả Nguyễn Duy Chính là bạn học đồng môn QGHC với người viết.  Ông là một nhà nghiên cứu, dịch giả và tác giả của nhiều bài viết rất có giá trị  như  Nhân sâm, Linh Chi,  Cà phê, Bảo kiếm, Thư họa, v..v…. Tính tình giản dị, hiền hòa, học rộng hiếu nhiều, ông là một “sư đệ” mà tôi rất quý phục. Xin có lời thăm hỏi và cám ơn tác giả Nguyễn Duy Chính về những bài viết rất có giá trị của NDC mà tôi đã đọc.

 Tôi còn nhớ năm 2003 tôi có đến thăm “hàn nho phong vị phú gia trang” của NDC và tôi đã tâm tình như sau trong Bản Tin của Hội CSV/QGHC về gia đình của người sư đệ  quý mến này:

“Nhìn tủ kiếng đựng những ấm trà sưu tập và nhìn NDC pha trà đãi khách, tôi thấy cả một “khung trời nghệ thuật uống trà” trong gian nhà nhỏ này.  Bà xã KT còn tặng cho tôi một bọc hoa thiên lý mà bây giờ “khi nấu canh rau, chồng vợ húp”, tôi đã “phải nhớ đời” bởi câu hát của người miền Trung mà đại huynh BV từ Miền Đông mới vừa gửi đến:

 “Thương chồng nấu cháo le le
 Nấu canh thiên lý, nấu chè hạt sen »

(nguồn : Một Chuyến du Cali 2003 của SL)

Tản mạn dông dài về thú uống trà, người viết lại nhớ đến tách trà Triệu Châu dưới đây:

Trà Triệu Châu


Tăng đến tham bái, Triệu Châu hỏi:
-          Ông đã từng đến đây chưa ?
-          Tăng đáp :
-          Dạ đến rối.
-          Vào trong uống trà đi.
Lại hỏi một Tăng khác:
-          Ông đã từng đến đây chưa?
-          Thưa con mới đến.
-          Vào trong uống trà đi.
Viện chủ thấy vậy thắc mắc:
Quái ! Đến rồi cũng uống trà đi, chưa đến rồi cũng uống trà đi.  Tại sao vậy cà?
Triệu Châu gọi:
-          Viện chủ.
-          Thưa vâng.
-          Vào trong uống trà đi.

Bình:  Trà Triệu Châu bình đẳng, đối với kẻ cũ người mới đều thể hiện tâm bình thường.
Viện chủ không bình thường mới thắc mắc nên cũng cần uống trà đi.
(Nguồn: Thiền là gì ? Gíác Nguyên)

Chúng ta là người tầm thường,  chắc chắn sẽ cùng một ý nghĩ như vị viện chủ nói trên vì chúng ta còn cái tâm phân biệt kẻ trước người sau, kẻ lớn người nhỏ.  Nhưng với Triệu Châu, một bậc thiền sư chân chính, Ngài đã dùng với cái tâm bình đẳng đối đãi mọi người như nhau, nên với ai Ngài cũng mời ai uống trà là thế đó!

Cũng nhân việc uống trà, người viết xin mời Bạn đọc tiếp một chuyện uống trà khác nữa nhé.

Chén trà Thiền lý

Có một học giả đến hỏi thiền nơi Thiền sư Nam Ẩn. 
Sư mang trà ra rót vào chén để đãi khách.  Trà tràn đầy ra ngoài mà sư vẫn cứ rót.
Học giả bèn thưa:
-          Sư phụ, trà đầy rồi xin ngừng tay lại.
Nam Ẩn đáp:
-          Ông có khác chi chén trà này, trong lòng đầy ấp những tri giải, định kiến. Nếu ông không cạn chén trà tri giải nơi mình trước.  Ta biết làm sao nói Thiền cho ông nghe.

Bình:  Hãy cạn chén trà tri giải của bạn đi.  Nếu không, bạn chỉ trông mặt mà bắt hình dong, nhận giặc làm cha, dầu có gặp Phật ra đời khai thị, bạn cũng không tỏ ngộ được, đừng nói gì đến Nam Ẩn.
(Nguồn : Thiền là gì ? Giác Nguyên)

Hôm nay, nhân ngày tuyết lạnh, người viết pha trà uống cho ấm lòng và chia sẻ với bạn về thú uống trà.  Hy vọng bạn cũng có thú uống trà như người viết và đã đọc nhiều tài liệu về trà nên chắc chắn Bạn sẽ cảm thông dễ dàng với tâm tình của người viết hôm nay.
Có thể Bạn cũng nghe  nhiều người còn nói rằng uống trà xanh có thể phòng chống bịnh ung thư nhờ các hoá chất gọi là Polyphenol, tannins, catechins trong trà, tuy rằng y học chưa khẳng định tác dụng rõ rệt của trà xanh đối với bịnh ung thư.  Như vậy uống trà cũng tốt lắm nhỉ?
 Riêng đối với người viết, ngồi trong căn phòng ấm cúng uống một tách trà nóng, ngắm nhìn tuyết rơi bên song cửa có cái thi vị của nó.  Trong cái không gian yên lặng này, tôi thấy tâm hồn mình cũng được an tĩnh.  Khi tâm hồn được an tĩnh thì đấy là hạnh phúc vì đối với tôi hạnh phúc là những phút giây hiện tại bình an, nếu ta cảm nhận đấy là hạnh phúc.  Bạn đồng ý chứ?

 “Đừng tìm mãi nơi đâu là hạnh phúc ,
Có thể gần, cũng có thể thật xa
Xa hay gần là ở tại Tâm ta
Ta cảm nhận thế nào là thế đó

 (Hạnh Phúc ở Nơi Đâu của SL)

 Xin chúc sức khoẻ và mọi sự an lành đến với các bạn .

Người giữ vườn Một Cõi Thiền Nhàn

Sương Lam

(Tài liệu sưu tầm trên internet, qua email bạn gửi, ORTB 15-405 1-8-2010)

Bài số 13 Một Cõi Thiền Nhàn




Chào quý bạn,

Đây là bài thứ mười ba của người viết về chủ đề Thiền Nhàn trong khu vườn Một Cõi Thiền Nhàn của trang văn nghệ Oregon Thời Báo.

Portland tháng 12 năm nay có những cơn mưa lạnh rỉ rả suốt tuần lễ.  Nhìn mưa rơi bên song cửa mà buồn đến nẫu ruột nẫu gan.  Các bạn của người viết ở Cali đến chơi cứ bảo tại sao tôi lại thích ở một nơi buồn và mưa nhiều thế!?
 Thế mà tôi đã sống ở nơi “phố nhỏ đìu hiu” này đã hơn 20 năm qua vì Portland trong trái tim nhỏ bé của người viết, lại là một Dalat diễm tình và thơ mộng với bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông với sương lam giăng đầy khắp nẽo, mà hồi nhỏ tôi ao ước đưọc sống ở đấy. Cái tên Sương Lam mà tôi chọn làm bút hiệu từ lúc tôi mới bắt đầu biết làm thơ tình năm 15 tuổi đã gắn liền với đời sống thơ văn nghệ thuật của tôi 50 năm qua và cuối cùng tôi đã chọn Portland là nơi vui thú điền viên dù thân nhân và bạn bè đã nhiều lần “dụ khị” tôi đi định cư ở nơi khác.  Ấy có phải là duyên phúc khi tôi đạt được mộng ước của mình là được sống ở một Dalat thứ hai theo cách nghĩ của tôi dù nơi đây buồn lắm!

Thú thật, mỗi lần tôi cất bước giang hồ đến những nơi xa lạ khác và ngay cả khi về thăm lại quê hương Việt Nam, tôi cứ mong chấm dứt sớm chuyến du ngoạn đường xa xứ lạ để tôi quay về lại với ngôi nhà nhỏ bé của mình ở Portland, để ngắm nhìn lại mảnh vườn sau có cây hồng, cây lê, có hoa tulip, hoa đào mà tôi đã ra công vun trồng mấy chục năm qua. Nhưng có lẻ nguyên nhân tình cảm sâu xa nhất là được vui đùa với cô cháu nội yêu quý Mya Ngọc Vy của tôi sau bao ngày xa vắng.
Có lẻ tình cảm thiêng liêng này mới là nguyên nhân chính làm cho tôi yêu Portland thêm hơn nữa, dù nơi đây có mưa lạnh buồn hiu.

Dông dài như thế để có thể nói rằng mọi chuyện ở đời  hình như là do duyên nghiệp cả.  Có  những sự việc nhiều khi không đem đến cho chúng ta kết quả như chúng ta hằng mong đợi hoặc đôi khi còn làm cho mình đau khổ nữa.  Trong phạm vi gia đình nhỏ bé của chúng ta, đời sống vợ chồng đôi khi cũng đem đến cho chúng ta nhiều điều phiền muộn vì nếu vợ chồng không thông cảm, hổ trợ tinh thần cho nhau thì một “nữa cái xương sườn kia” kia có thể là “nữa hồn thương đau” của ta đó.  Một người thích thơ văn, nghệ thuật, thích hoạt động xã hội nếu không đưọc sự thông cảm, ủng hộ, khích lệ của người phối ngẫu thì ít nhiều gì thiện chí và khả năng của người ấy cũng bị hao mòn, giảm thiểu và ta cảm thấy đau buồn lắm. Một người làm được việc tốt, giúp đỡ, chia sẻ những điều ích lợi chung cho tha nhân thì  thân nhân của họ cũng được chung hưởng phúc báo của những việc tốt, thiện lành đó, cho nên chúng ta cũng cần nên khích lệ, ủng hộ tình thần của họ.  Có như thế thì cuộc đời sẽ tươi đẹp hơn nhỉ?
 
 Nếu hiểu rằng, trong cuộc đời của ta có những thuận duyên làm cho tài năng và thiện chí của ta phát triển tốt đẹp thì cũng có những nghịch duyên làm cho ta phải kiên trì và phấn đấu khắc phục những trở ngại đó với cái tâm an bình và nhẫn nhục.  Hy vọng sẽ có một ngày, chúng ta sẽ đạt được kết quả mà ta mong ước.  Việc gì cũng cần phải có thời gian để cho mọi việc được tiến hành tốt đẹp, phải không bạn?

 Xin mời bạn cùng đọc với người viết mẫu chuyện ngắn dưới đây

Càng gấp càng chậm

Có chàng thanh niên lên núi xin một dị nhân truyền dạy kiếm pháp, anh ta thưa:

-          Bạch sư phụ, nếu như con nỗ lực học tập, chừng bao lâu mới học xong?
-          Có lẻ mười năm.
-          Cha con tuổi càng cao, con phải lo trở về hầu hạ.  Nếu  như con càng nhiệt thành nỗ lưc học tập hơn nữa cần chừng bao lâu?
-          À! Như thế thì cần ba mươi năm.
-          Sư phụ trước đã nói mười năm, bây giờ lại nói ba mươi năm.  Con không ngại bất cứ lao khổ nào.  Xin sư phụ dạy trong thời gian ngắn nhất để học thành đạt.
Vị kiếm sư đáp:
-          Như thế thì phải theo học nơi ta bảy mươi năm mới thành tựu.

Lời bình:  Người mong thành công sớm để được lợi gần hơn phân nữa, là kẻ “dục tốc bất đạt”.
                 “ Tâm bình thường là Đạo”, chính là lẽ này, càng muốn mau thành công, tỏ ra thiếu
                chí nhẫn nại thì không thể học thiền được.

(Nguồn: Thiền là gì? Biên soạn – Giác Nguyên)

Người viết may mắn được thừa hưởng cái tính ham đọc sách của cha tôi nên rất thích văn chương, thơ phú.  Khi cha mẹ  tôi còn sống, tôi thường hay viết thư về thăm hỏi sức khoẻ ba má tôi.  Trong thư, tôi thường hay tả tình tả cảnh sinh hoạt của gia đình nhỏ bé của tôi nơi xứ người như một bài văn, bài thơ.  Mỗi lần về thăm ông cụ, tôi thấy dưới gối nằm của ba tôi  là những bức thư của tôi được xếp cẩn thận trong một bìa giấy.  Ba tôi nói với tôi là cụ đọc đi đọc lại những bức thư này mãi vì những bức thư này đem niềm vui tình cảm đến với cụ trong tuổi gíà.  Cha tôi cũng biết làm thơ. Ba tôi bảo tôi đọc, phê bình, thảo luận với cụ về những bài thơ cụ viết vì có lẻ chỉ có tôi là người chịu nói chuyện thi văn với cụ vì tôi cũng thích thơ văn.  Tôi thấy cha tôi vui, dĩ nhiên là tôi cũng vui theo vì ít ra tôi cũng làm được một việc gì đó làm cho ba tôi vui, dù rất tầm thường là tôi  chỉ ngồi nói chuyện tào lao với cụ về  thơ văn cho cụ vui được ít phút giây.  Rồi cũng từ đấy, tôi càng ngày càng thích viết văn làm thơ vì lúc nào cũng có người luôn luôn ủng hộ và khích lệ tôi.  Người đó chính là ba tôi.  Con xin cảm tạ ân đức của ba đã cho con một niềm vui tinh thần thanh nhã.
 Kể từ ngày ba tôi qua đời, tôi đã mất đi một người bạn tri kỷ ngoài tình cha con.  Bây giờ, tôi vẫn tiếp tục chia sẻ tâm tình của tôi với những người bạn mà tôi quen biết vì chính nhờ có họ mà đời sống tình cảm và tinh thần của tôi được phát triển tốt đẹp hơn vì họ luôn khích lệ, hỗ trợ tinh thần tôi.  Đó là những thuận duyên tốt đẹp bên cạnh những nghịch duyên mà tôi gặp phải.

Bây giờ là Mùa Giáng Sinh, mùa của yêu thương và chia sẻ niềm vui.  Tôi tuy là Phật  tử nhưng năm nào nhà tôi cũng trưng bày cây thông với đèn hoa rực rỡ trước sân và có một bửa tiệc xum họp gia đình trong ngày Giáng Sinh vì đây cũng  là dịp để tôi chia sẻ niềm vui và xum họp với người thân trong gia đình tôi.
 Tôi rất kính trọng niềm tin tâm linh của các thân hữu của tôi vì tôi quan niệm rằng Chúa, Phật hay giáo chủ của các tôn giáo đều  khuyện dạy đệ tử  nên làm  lành lánh dữ, yêu thương nhau trong tinh thần từ bi, bác ái đã được tôi cảm nghĩ như sau:

Tháng Chạp đến với đèn hoa rực rỡ
Người người mừng chào đón Lễ Giáng Sinh
Trời mùa Đông nhưng vẫn thấy ấm tình
Tình Nhân Loại, Thương Yêu và Bác Ái

Thiện Tâm ấy nào phân chia tông phái
Chúa trên cao hay Phật ngự tòa sen
Thương kẻ trần không phân biệt sang hèn
Khuyên người phải biết thương yêu, giúp đở
.
(Bài Tình Thơ Tháng Chạp – SL*)

Tôi vẫn thấy xúc động mỗi khi đọc bài thơ “Hoa trắng thôi cài trên áo tím” của  nhà thơ Kiên Giang:

…..”
Lâu quá không về thăm xóm đạo
Từ ngày binh lửa cháy quê hương
Khói bom che lấp chân trời cũ
Che cả người thương nóc giáo đường”

‘Từ lúc giặc ruồng vô xóm đạo
Anh làm chiến sĩ giữ quê hương
Giữ màu áo tím, cành hoa trắng
Giữ cả trường xưa, nóc giáo đường”

Tôi cảm thông tâm tình của nhà thơ người Rạch Giá này:

…“Lâu quá không về thăm xóm đạo
Không còn đứng nép ở lầu chuông
Những khi chuông đổ anh liên tưởng
Người cũ cầu kinh giữa thánh đường

Kiên Giang

Tôi cũng xót xa, ngậm ngùi cùng với Vũ Anh Khanh qua bài Tha La Xóm Đao thuộc Xã An Hòa, huyện Trảng Bàng, Tây Ninh.

“Đây Tha La xóm đạo,
Có trái ngọt, cây lành.
Tôi về thăm một dạo,
Giữa mùa nắng vàng hanh,
Ngậm ngùi, Tha La bảo:
- Đây rừng xanh, rừng xanh,
Bụi đùn quanh ngõ vắng,
Khói đùn quanh nóc tranh,
Gió đùn quanh mây trắng,
Và lửa loạn xây thành.

Viễn khách ơi! Hãy dừng chân cho hỏi
Nắng hạ vàng ngàn hoa gạo rưng rưng” …

Vũ Anh Khanh


Những ngày xưa còn ở quê nhà, tôi cũng thường lang thang với bạn bè ở nhà thờ Đức Bà ở thành phố Saigon trong ngày Lễ Giáng sinh để hoà chung niềm vui với những người có đạo:

“Lạy Chúa con là người ngoại đạo
Nhưng tin có Chúa ở trên cao
Trong lòng còn giữ màu hoa trắng
Cứu rỗi linh hồn con, Chúa ơi!”

Kiên Giang

Nhân mùa Giáng Sinh, người viết xin chúc tất cả quý bạn có những phút vui và hạnh phúc với người thân trong buổi tiệc xum họp gia đình của quý bạn.
 Ngoài trời dầu có gió lạnh tuyết rơi nhưng chúng ta lúc nào cũng thấy ấm lòng với tình thương yêu của gia đình và thân hữu, bạn đồng ý chứ?

Xin mượn bốn câu thơ dưới đây thay cho lời chúc của người viết gửi đến quý bạn trong dịp Lễ Giáng Sinh nhé:

Quen hay lạ vẫn nụ cười cởi mở
Đưa bàn tay nắm lấy một bàn tay
Trao cho nhau lời chúc tốt đẹp này:
“Chúc tất cả được bình an dưới thế”

 (Bài tình thơ Tháng Chạp -  SL*)

 Xin chúc sức khoẻ và mọi sự an lành đến với các bạn .

 Người giữ vườn Một Cõi Thiền Nhàn
  
Sương Lam
 
(Tài liệu sưu tầm trên internet, qua email bạn gửi, ORTB 13-403-122509)